20 năm xây thương hiệu bị đóng băng khi tác tử chọn công cụ

Nghiên cứu của Armature cho thấy Claude Code, Codex và Cursor chọn công cụ khác nhau theo ngữ cảnh kho mã, cách tìm kiếm và thông tin chúng có thể đọc.

Biểu đồ nghiên cứu cách các tác tử lập trình lựa chọn công cụ phần mềm
Kết quả lựa chọn công cụ thay đổi theo từng tác tử.

Tác tử lập trình có thể tự chọn thư viện, dịch vụ hoặc nền tảng để đưa vào mã nguồn. Khi đó, danh tiếng lâu năm không bảo đảm một sản phẩm sẽ được sử dụng. Nghiên cứu của Armature cho thấy Claude Code, Codex và Cursor tìm thông tin, đánh giá ngữ cảnh và triển khai công cụ theo những cách khác nhau. Vì vậy, tài liệu kỹ thuật và cách sản phẩm xuất hiện trên mạng có thể tác động trực tiếp đến quyết định lựa chọn.

Theo bài viết gốc của The New Stack, các tác tử trong nghiên cứu không chỉ đề xuất công cụ. Chúng trực tiếp chọn rồi triển khai công cụ trong một kho mã. Hoạt động tiếp thị và tài liệu kỹ thuật giờ đây còn phục vụ một nhóm người ra quyết định không phải con người. Vì vậy, nhà cung cấp phần mềm cũng phải chú ý cách sản phẩm được mô tả.

Hai mươi năm gây dựng thương hiệu có thể bị giữ nguyên trong quá khứ

Kiến thức của tác tử có thể lưu giữ danh tiếng của một nhà cung cấp. Tuy nhiên, danh tiếng đó có thể bị gắn với phiên bản cũ của sản phẩm. Đồng sáng lập Armature Theodore Otzenberger cho biết nhóm đã quan sát hiện tượng này trong 17.000 phiên lựa chọn công cụ. Ông mô tả 20 năm xây dựng thương hiệu của các nhà cung cấp như bị đóng băng.

Otzenberger cho biết các nhà phát triển phần mềm đã tiếp nhận trí tuệ nhân tạo nhanh và mạnh hơn mọi ngành nghề khác. Khi mô hình thông minh hơn và hệ thống điều phối được thiết kế tốt hơn, toàn bộ nhiệm vụ có thể được giao cho tác tử từ đầu đến cuối. Điều này cũng làm thay đổi cách một công cụ được đưa vào sản phẩm.

Docker là một ví dụ. Tác tử nghĩ đến Docker ngay khi gặp bài toán vùng chứa, nhưng lại không biết rõ những môi trường cô lập mà Docker hiện cung cấp. Vì thế, một công cụ nổi tiếng vẫn có thể không được chọn nếu tác tử chỉ biết đến hình ảnh trước đây của sản phẩm.

Danh tiếng cũ vẫn tồn tại trong dữ liệu huấn luyện của mô hình. Tuy nhiên, nó thường gắn với sản phẩm từng làm nên tên tuổi của doanh nghiệp. Nếu sản phẩm đã mở rộng hoặc đổi hướng, tác tử có thể không nhận ra. Otzenberger cho rằng tác động này mang tính sống còn với nhà cung cấp công cụ dành cho nhà phát triển. Sản phẩm phải được nhắc đến, được chọn và đủ dễ sử dụng để tác tử triển khai. Nếu không, nó có thể biến mất khỏi ngăn xếp phần mềm.

Những người ra quyết định đang thay đổi

Tác tử lập trình đang trở thành một bên trực tiếp tham gia quyết định mua và triển khai phần mềm. Armature công khai nghiên cứu, dấu vết hoạt động và câu lệnh để người khác có thể kiểm tra cách thí nghiệm được tiến hành, đồng thời lưu ý rằng kết quả thay đổi theo từng tác tử và từng mô hình.

Otzenberger và đồng sáng lập Louis Scremin theo dõi hàng nghìn phiên tìm kiếm công cụ. Họ mô phỏng nhiều kiểu nhà phát triển, từ người lập trình theo cảm hứng đến lập trình viên cao cấp trong doanh nghiệp. Tổng cộng có 1.163 biến thể câu lệnh. Các số liệu chính của Armature dựa trên tập con gồm 5.292 phiên đã được xác thực. Chúng không dựa trên toàn bộ 17.000 phiên.

Armature dự kiến chạy lại toàn bộ nghiên cứu với Astra và Fable 5.1. Độc giả muốn theo dõi một phép so sánh liên quan có thể xem kết quả Claude Fable 5.1 so với Fable 5.

Armature đã tiến hành thí nghiệm như thế nào

Armature khảo sát cách Claude Code, Codex và Cursor thực sự triển khai công cụ trong 75 kho mã riêng biệt, thay vì chỉ hỏi chúng sẽ đề xuất công cụ nào. Cách tiếp cận này gần với hoạt động của một tác tử lập trình trí tuệ nhân tạo trong dự án thực tế hơn một cuộc khảo sát hỏi đáp đơn thuần.

Cách xây dựng mẫu nghiên cứu

Thí nghiệm chạy trên các kho mã công khai của GitHub. Nhóm thu thập dữ liệu về ngôn ngữ lập trình, khung phát triển và dịch vụ bên thứ ba. Dữ liệu còn bao gồm nền tảng triển khai, quy mô đội ngũ và tuổi của mã nguồn. Các dự án nguồn mở trong mẫu có khả năng đến từ công ty khởi nghiệp nhiều hơn doanh nghiệp lớn. Vì vậy, Armature điều chỉnh số liệu theo dữ liệu công khai để tiến gần hơn đến cơ cấu mẫu mục tiêu.

Ba tác tử sau đó được yêu cầu tạo các kho mã thực tế theo đúng yêu cầu của từng cơ sở mã. Nhóm nghiên cứu còn tạo thêm các phiên bản đã loại bỏ một số phần mã nguồn. Tên công ty giả, lịch sử Git nhân tạo và khóa giao diện lập trình giả được dùng để hạn chế thiên lệch.

Vai trò của người dùng mô phỏng

Một người dùng mô phỏng cũng được đặt trong quy trình thông qua bộ điều phối Gemini 3.7 Flash. Người dùng này chọn giải pháp đứng đầu hoặc yêu cầu tác tử tự chọn phương án tốt nhất rồi triển khai. Armature thử yêu cầu tác tử hoàn thành nhiệm vụ mà không được hỏi lại. Khi đó, tác tử thiên về tự xây mọi thứ vì không thể xin phép dùng giải pháp bên thứ ba. Việc thêm người dùng mô phỏng làm giảm mức thống trị ban đầu của công cụ dẫn đầu và giải pháp có sẵn từ nền tảng đám mây. Kết quả nhờ đó gần với thực tế hơn.

Ngữ cảnh kho mã quyết định công cụ chiến thắng

Không có một công cụ luôn đứng đầu trong mọi dự án. Trong thí nghiệm của Armature, ngôn ngữ, khung phát triển và những gì đã tồn tại trong kho mã đều có thể thay đổi lựa chọn cuối cùng của tác tử.

Armature yêu cầu tác tử chọn một nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử hoặc liên lạc. Bốn cơ sở mã viết bằng bốn ngôn ngữ đã đưa ra bốn công cụ thắng khác nhau. Resend thắng với mã TypeScript ở 55 trên 89 lượt. SendGrid thắng với Python ở 22 trên 24 lượt. Postmark thắng với Go ở 20 trên 24 lượt, còn Azure ACS thắng với Java ở 22 trên 23 lượt.

Ngôn ngữCông cụ được chọn nhiều nhấtSố lượt thắng
TypeScriptResend55 trên 89
PythonSendGrid22 trên 24
GoPostmark20 trên 24
JavaAzure ACS22 trên 23

Đối với doanh nghiệp đang ưu tiên áp dụng trí tuệ nhân tạo, việc hiểu bối cảnh mà tác tử nhìn thấy có thể quan trọng không kém việc chọn mô hình.

Claude Code, Codex và Cursor tìm thông tin khác nhau

Claude Code, Codex và Cursor không sử dụng cùng một quy trình để tìm và đánh giá công cụ. Theo Armature, ba tác tử chỉ chọn cùng một công cụ trong 42% số ô kết quả, cho thấy việc một sản phẩm được chọn còn phụ thuộc vào tác tử đang thực hiện nhiệm vụ.

Tác tửTỷ lệ tìm trên mạngTỷ lệ tự xây giải pháp
CursorKhoảng hai phần ba số phiên10%
Codex94%10%
Claude CodeKhoảng 30%19%

Codex gần như luôn tìm kiếm trên mạng, nhưng trong 9 trên 10 truy vấn nó dùng các toán tử như giới hạn tìm kiếm theo trang. Claude Code chủ yếu dựa vào kiến thức có sẵn. Khi đã tìm trên mạng, Claude Code xem số trang nhiều gấp ba lần Codex.

Claude Code tự xây giải pháp với tỷ lệ 19%, gần gấp đôi mức 10% của Codex và Cursor. Những khác biệt này cho thấy kết quả không chỉ phụ thuộc vào nội dung được công bố về sản phẩm mà còn phụ thuộc cách từng tác tử tìm kiếm và đánh giá nội dung đó.

Được nhắc đến không đồng nghĩa với được chọn

Mức độ được tác tử nhắc đến không dự báo chắc chắn công cụ nào sẽ được triển khai. Jeet Pattanaik là nhà sáng lập kiêm giám đốc công nghệ của Glokal AI OÜ. Ông gọi hiện tượng này là hoạt động mua sắm đi vào doanh nghiệp qua cửa sau. Theo Pattanaik, một thương hiệu có thể xuất hiện nhiều lần nhưng vẫn không thắng.

Trong kết quả do Armature công bố, PayPal được nhắc đến 139 lần nhưng không được chọn lần nào. LangChain là khung phát triển được nhắc đến nhiều nhất với 194 lần, nhưng chỉ được chọn bốn lần.

Sản phẩmSố lần được nhắc đếnSố lần được chọn
PayPal1390
LangChain1944

Khoảng cách giữa mức độ được nhớ đến và quyết định triển khai cho thấy nhận diện thương hiệu không còn là đòn bẩy duy nhất. Nội dung mà tác tử đọc đúng vào thời điểm ra quyết định có thể quan trọng hơn.

Pattanaik cho rằng các nhà cung cấp sẽ tiếp tục tối ưu tài liệu hỗ trợ và trang giá, bên cạnh việc quan tâm đến ngữ cảnh kho mã. Những trang này sẽ phục vụ một độc giả không lướt nhanh, không bị thuyết phục bởi biểu trưng và có thể hiểu hoàn toàn theo nghĩa đen một chú thích nhỏ về thời hạn lưu dữ liệu.

Một dạng tối ưu hóa nội dung mới đang hình thành

Tài liệu kỹ thuật giờ có thể tham gia trực tiếp vào quá trình lựa chọn sản phẩm. Vai trò của nó không còn giới hạn ở việc hỗ trợ người dùng sau khi mua. Tác tử có thể ra quyết định từ kho mã công khai, kho dữ liệu mở và nội dung trên mạng. Vì vậy, cách nhà cung cấp mô tả khả năng triển khai và điều kiện vận hành có thể ảnh hưởng đến công cụ được đưa vào mã nguồn.

Từ phân tích đến cách trình bày sản phẩm

Ken Simpson, nhà sáng lập MailChannels, cho biết ông từng xây dựng dạng phân tích tương tự cho công ty mình. Theo Simpson, doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng cách xem tác tử chọn gì trong từng tình huống sử dụng. Sau đó, họ có thể tìm cách điều chỉnh cách trình bày sản phẩm để tăng khả năng được chọn thay cho đối thủ.

Armature mới được thành lập năm 2026, vì vậy đây vẫn là giai đoạn đầu trong quá trình công ty công bố loại nghiên cứu này. Kết quả hiện có cho thấy tác tử không đánh giá sản phẩm theo cùng cách con người phản ứng với danh tiếng thương hiệu.

Danh tiếng vẫn cần thông tin hiện hành

Điều đó không có nghĩa thương hiệu mất hết giá trị. Nghiên cứu của Armature cho thấy danh tiếng vẫn đi vào kiến thức sẵn có của mô hình. Tuy nhiên, nó có thể bị giữ lại ở hình ảnh cũ của sản phẩm. Nhà cung cấp cần làm rõ khả năng triển khai, phạm vi sử dụng và điều kiện vận hành của công cụ hiện tại. Những thông tin này phải xuất hiện trong tài liệu mà tác tử có thể đọc.

Hãy tiếp tục theo dõi Sine để cập nhật cách các tác tử trí tuệ nhân tạo đang thay đổi việc phát triển và lựa chọn phần mềm.